Nhắc đến kỹ thuật nuôi hàu thì rất đa dạng về phương pháp. Trước đây, ở Việt Nam người ta chủ yếu sử dụng phương pháp nuôi đá, cọc tre, ngói mái là chính. Ngày nay, phương pháp đã được cải tiến, từ công nghệ nuôi bãi, trở thành công nghệ nuôi giàn treo, nuôi bè, nuôi cọc xi măng là chính. Với bài viết này, cùng BAVABI tìm hiểu sâu hơn về kỹ thuật nuôi hàu ở Việt Nam.

ĐIỀU KIỆN VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
Thiết kế khu vực nuôi:
- – Khi chọn bãi nuôi hàu cần chú ý đến một số vấn đề:
- – Vùng nuôi phải là ở cửa sông, ít sóng gió, có độ mặn 20-30% độ pH, thích hợp 7,5 – 8,5
- – Nguồn nước sạch, nước lưu thông (có dòng chảy nhẹ), màu nước xanh có nhiều sinh vật phù du
- – Độ sâu nên chọn vùng hạ triều, chất đáy tương đối cứng
- – Các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp cho hàu, đặc biệt là nồng độ muối, độ trong… không bị nhiễm bẩn, không có nguồn nước ngọt đổ ra trực tiếp
- – Dòng chảy và độ cao của thuỷ triều
- – Nguồn nước có đầy đủ thức ăn
- – Ít sóng gió, ít tàu bè qua lại, giao thông thuận lợi
- – Bãi nuôi hàu phải đảm bảo độ ngập nước cho hàu khi con nước ròng. Khu vực nuôi phải xa khu cư dân, ít thuyền bè qua lại, tránh nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt.
Vùng biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh là khu vực có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho sự phát triển của hàu Thái Bình Dương. Bởi vậy, nơi đây cũng nổi tiếng với các giống hàu và được tặng cho cái tên “thủ phủ của hàu”.

Mùa vụ và thời gian nuôi
Một trong những yếu tố đầu tiên phải kể đến trong kỹ thuật nuôi hàu phải nói đến là Mùa vụ và thời gian nuôi:
- – Mùa vụ nuôi: từ xưa, dựa trên các yếu tố về thời tiết, khí hậu tự nhiên và mùa sinh sản của hàu, ngư dân thường thả giống vào tháng 3-4 hoặc từ tháng 8-9 (mùa phụ) trong năm
- – Thời gian nuôi: sau 8 – 10 tháng nuôi có thể thu hoạch, sau khi nuôi khoảng 8 tháng nên thu tỉa bớt những con hàu lớn nhằm giảm mật độ nuôi để hàu sinh trưởng nhanh
Các kỹ thuật nuôi hàu:
Chuẩn bị bè nuôi
Hình thức nuôi truyền thống (có 3 dạng)
– Nuôi gieo trên mặt đáy: hàu giống được rải đều trên mặt đáy. Khu vực nuôi phải có đáy cứng, chất đáy là sỏi để con giống không bị chìm trong bùn hoặc trong cát. Vùng nuôi cũng phải ở vị trí có thuỷ triều lên xuống hàng ngày. Hình thức nuôi này chiếm diện tích lớn, năng suất không cao, tuy nhiên đầu tư ban đầu thấp
– Nuôi trên đá: lựa chọn các bãi đá ven biển hoặc chuyển các hòn đá từ trên núi xuống để hàu bám vào và phát triển. Hình thức này chỉ để nuôi hàu từ con giống tự nhiên. Hạn chế của hình thức nuôi này là chiếm diện tích lớn và sản lượng thấp
- – Nuôi treo trên cọc: sử dụng các cọc xi măng, tre, gỗ…dài 1,2-1,8m cắm ở các vùng có sóng gió yên tĩnh. Cọc sau khi lấy giống được gác trên gian, ưu điểm của hình thức này là khi thuỷ triều xuống, hàu được phơi nắng hàng ngày đã hạn chế được các loại sống cộng sinh như sun, hà đá…và hạn chế các loài ký sinh trong thịt hàu. Mỗi ngày hàu được phơi nắng khoảng 2-3h ngay cả khi nhiệt độ không khí đạt 25-30 độ C.
Tuy nhiên, với các phương pháp nuôi hàu truyền thống, chưa mang lại hiệu quả về năng suất và chất lượng cao cho con hàu. Hiện nay, nhiều kỹ thuật nuôi hàu tiên tiến đã được ngư dân vùng nuôi áp dụng.
Hình thức nuôi tiên tiến:
- – Nuôi treo: hình thức này, cá thể hàu được treo lơ lửng trong cột nước, tạo điều kiện cho hàu có thời gian lọc thức ăn tối đa, việc quản lý, chăm sóc, thu hoạch thuận lợi hơn, tận dụng tối đa diện tích mặt nước và năng suất sinh học vùng nước cao nhất
– Nuôi treo trên bè: hàu giống bám trên các vật bám (vỏ nhuyễn thể, nhựa…) vật bám được đục lỗ và treo trên các dây. Độ dài ngắn của dây tuỳ thuộc vào độ sâu của vùng nuôi và khả năng tải của bè vì các dây treo sẽ buộc trên bè hoặc trên các sợi dây dài
– Bè nuôi hàu ở Hàn QUốc có kích thước 18x9m hoặc 9x9m, có 30-40 phao nổi, dây dài 9m, phao là các khối xốp có kích thước 1×0,5m, mỗi bè treo 400-500 dây, mỗi dây dài từ 2-3m.

– Nuôi treo trên dây: đây là hình thức nuôi phổ biến trong kỹ thuật nuôi hàu hiện nay. Hình thức nuôi này hàu có tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và chi phí thấp, dễ áp dụng. Bè nuôi hàu được thiết kế bằng tre, các thanh tre được liên kết bằng các dây nhựa. Sự liên kết bằng dây nhựa có độ dẻo dai, chịu được sóng gió và không tốn nhiều thời gian, chi phí sửa chữa thấp và có độ bền hơn hẳn so với các loại dây buộc khác.

– Bè nuôi có kích thước 10x10m, mỗi bè có 6 phao được buộc vào bè bằng dây nhựa để nâng bè nổi trên mặt biển. Mỗi bè thường được treo 500 dây vật bám, khoảng cách mỗi dây là 20cm. Một dây treo 2-2,5cm và được treo 12 vỏ hàu vật bám, mỗi vỏ cách nhau 12-15cm. Trên mỗi vỏ có 10-12 con hàu giống bám. Độ dài hay ngắn của dây treo phụ thuộc vào độ sâu, dòng chảy của vùng nuôi và khả năng chịu tải của bè nuôi

– Nuôi hàu rời, đây là hình thức tiên tiến hơn, hàu được nuôi trong các khay hoặc túi lưới. Các khay và túi lưới được treo trên bè. Nuôi rời có thể bắt đầu ngay từ hàu giống trong trại giống hoặc tách hàu nuôi tại đây nuôi thêm 3-4 tháng để thu hoạch. Ưu điểm của hình thức nuôi này là dễ quản lý và thu hoạch, đạt năng suất cao. Do phân cỡ được ngay từ khi đưa giống vào túi, khay nên hàu sinh trưởng đều và nhanh hơn. Nuôi theo hình thức này tránh được sun và các loại cộng sinh khác do có thời gian phơi nắng nên vỏ hàu rất sạch.
Hiện nay, đa số các nước đều áp dụng kỹ thuật nuôi hàu theo hình thức nuôi treo do người Nhật phát minh và hoàn thiện.

Kỹ thuật chọn và thả giống:
Chọn giống:
Lấy giống và nuôi lớn: trong tự nhiên, ấu trùng bám vào các loại giá thể khác nhau như vỏ nhuyễn thể, đá, cọc…tuy nhiên, khi không có giá thể cứng chúng cũng có thể bám vào rong biển. Giá thể thích hợp là những giá thể có chứa canxi như vỏ động vật thân mềm hoặc đá vôi. Vật liệu dùng làm giá thể cho các loài sống bám như hàu thường là vỏ của động vật thân mềm, ngoài ra có thể dùng dây thừng, tre, ống nhựa, gỗ hoặc sọ dừa và các loại vật liệu khác. Sự lựa chọn giá thể tuỳ theo hình thức và quy mô nuôi.
Giá thể dùng để nuôi treo (bè, giàn) thường lớn và bền hơn giá thể dùng nuôi đáy. Giá thể thích hợp thì phải đạt được một số tiêu chuẩn sau:
- Giá rẻ và có thể cung cấp với số lượng lớn
- Rắn, hơi nhám, bề mặt sạch (màu sắc không quan trọng)
- Trọng lượng riêng vừa phải, đảm bảo không quá nặng khi treo nhưng cũng phải đủ nặng để không bị nổi
- Dễ dàng vận chuyển
- Diện tích bề mặt lớn nhát trên cùng một đơn vị thể tích
- Dòng nước chảy phải qua toàn bộ bề mặt của giá thể và đường kính của cọc phải đủ lớn cho sinh trưởng của ấu trùng đến khi đạt cỡ thu hoạch
- Thích hợp cho cả nuôi treo và nuôi đáy
- Ít tích tụ bùn trên bề mặt giá thể
- Đối với giá thể dùng nuôi đáy phải dễ dàng phân huỷ sau một thời gian nuôi
- Lấy giống là một giai quan trọng nhưng nó chỉ là một giai đoạn ngắn trong quá trình nuôi. Vì vậy tuỳ điều kiện cụ thể mà chọn giá thể sao cho thu được nhiều ấu trùng nhất nhưng chi phí thấp nhất.
Kỹ thuật nuôi hàu sử dụng giống nhân tạo: giống được sản xuất từ các cơ sở sản xuất giống nhân tạo
Cho đẻ và ương ấu trùng
- – Kích thích hàu đẻ bằng cách thay đổi nhiệt độ nước của môi trường nuôi từ 3- 40C để gây sốc kích thích hàu đẻ trứng, phóng tinh. Tỷ lệ đực cái là 4:6. Trứng thụ tinh ngay sau khi đẻ và được lọc qua lưới với kích thước mắt lưới 40mm và chuyển sang bể ương ấp.
- – Mật độ ương ban đầu là 20-25 tế bào/ml. Sau 24 giờ lọc thu ấu trùng đỉnh vỏ thẳng và chuyển ương trong bể mới có dung tích 2-3m3 với mật độ 10-15 con/ml.
Chăm sóc và quản lý ấu trùng
- – Hằng ngày thay 1/2 thể tích nước trong bể ương. Thay toàn bộ nước, vệ sinh bể và chuyển ấu trùng sang bể ương mới 2 ngày/lần.
- – Cho ăn bằng vi tảo mật độ 1.000 – 5.000 tế bào/ml vào buổi sáng và chiều.- Sục khí 24/24 giờ; độ mặn là 8-20‰; nhiệt độ nước 24-300C; pH 7,8-8; nồng độ O2 từ 4-6mg/lít. Thấy ấu trùng phân tán đều trong bể là được.
Thu ấu trùng
- Trong điều kiện bình thường, thời gian ương kéo dài từ 20-25 ngày. Khi ấu trùng đạt kích thước 250-350um chúng xuất hiện chân bò và chuyển sang trạng thái sống bám cố định vào giá thể. Đây là giai đoạn để thu con giống.
- Thu ấu trùng bám vào giá thể bằng các loại vật bám khác nhau như vỏ hàu, vỏ sò, ngói vỡ, tấm nhựa… để phục vụ nuôi treo.
- Thu ấu trùng ở dạng đơn: con giống bám vào vật bám với kích thước nhỏ (25um) như: bột xi-măng, bột vỏ hầu phục vụ cho kiểu nuôi khay. Xu thế hiện nay là sử dụng con giống dạng đơn để nuôi khay.
Nuôi thành con giống
- Ấu trùng sau khi bám 2 ngày, đưa ra ngoài môi trường tự nhiên nuôi thành con giống. Nuôi treo hoặc nuôi khay trong thời gian 2 tháng, kích thước thu được từ 2-3cm chiều cao vỏ.
Phòng trị bệnh: Trong kỹ thuật nuôi hàu cần hết sức lưu ý đến các yếu tố về phòng trị bệnh vầ các yếu tố gây hại cho sự sinh sản và phát triển của hàu.
- Địch hại của hàu: bao gồm các yếu tố vô sinh (độ muối, nhiễm bẩn, độc tố, lũ lụt…) và yếu tố hữu sinh bao gồm các sinh vật cạnh tranh vật bám (belanus, anomia…), sinh vật ăn thịt (rapana, thais, sao biển, cá…), sinh vật đục khoét (teredo, bankia…), sinh vật ký sinh (myticola, polydora…), các loài tảo độc gây nên hiện tượng bùng phát vi tảo độc gây hại, ảnh hưởng rất lớn đến nghề nuôi hàu thế giới. Vì vậy những cập nhật tiên tiến nhất trong kỹ thuật nuôi hàu là vô cùng quan trọng.
- Tuy nhiên hàu cũng có khả năng tự bảo vệ nhờ vỏ, khi gặp kẻ thù chúng khép vỏ lại. Ngoài ra chúng còn có khả năng chống lại các dị vật (cát, sỏi), khi dị vật rơi vào cơ thể, màng áo sẽ tiết ra chất xà cừ bao vây dị vật.
Bệnh của hàu:
- Hàu Thái Bình Dương cũng giống các loài thuỷ sản khác, chúng mắc một số bệnh sau:
- Bệnh ký sinh trùng: để phòng và trị, người ta đã nhúng hàu vào nước nóng từ 50-550 độ C 1-2,5cm đã cho kết quả tốt nhất mà không ảnh hưởng đến hàu ở thời gian 10-15 giây sẽ loại bỏ được vẹm, sun và các loài sống bám khác. Áp dụng kỹ thuật nuôi hàu với biện phát xử lý, đưa dây hàu nuôi vào trong bể nước ngọt khoảng 30-50 phút tuỳ theo nhiệt độ nước.
- Bệnh do virus: từ năm 1960 tại vịnh Chesapeake Mỹ đã phát hiện ra hàu bị bệnh do virus Herpes. Hàu nhiễm virus thường có màu trắng
- Bệnh do vi khuẩn: Cowell đã xác định loài Pseudomonas enalia gây bệnh chết hàng loạt cho hàu giống ở Mỹ, Sinderman đã phát hiện thêm Vibrio anguilarium và Vibrio angullarum cũng gây chết hàng loạt cho hàu nuôi ở giai đoạn sau hàu giống.
- Bệnh do Protozoa: Trong tất cả các nguyên nhân gây tử vong lớn cho hàu thì bệnh do protozoa chinianelsoni là nguy hiểm nhất. Năm 1957 – 1960, 95% hàu nuôi ven biển nước Mỹ đã chết do nhiễm vi khuẩn này, mãi đến 4 năm sau mới tìm ra nguyên nhân, protozoa thường xuất hiện khi nhiệt độ cao cùng với độ mặn thấp (15%0), protozoa này cũng quan sát thấy tại Hàn Quốc.
- Bệnh trứng: theo Chun, bệnh chỉ xảy ra với Crassaostra gigas. Năm 1986 Copms đã xác định dịch bệnh do marteilioides chungmuensis thuộc ngành Ascetospora. Ở Hàn Quốc bệnh thường xuất hiện từ tháng 8-11. Ký sinh trùng thường bám vào mắt hàu.
- Thuỷ triều đỏ: các loài tảo lien quan đến thuỷ triều đỏ là Chaetoceos, gymnodinium, gonyaunax, ceratium, proroccentrumn…trong số loại gây độc hại nhất là gymnodinium.
Việc áp dụng kỹ thuật nuôi hàu tiên tiến có thể giúp giảm thiểu hàu bị nhiễm bệnh trên diện rộng, từ đó giúp ngư dân kiểm soát được rủi ro rất lớn. Đồng thời với kỹ thuật nuôi hàu hiện đại, việc đảm bảo cảnh quan môi sinh, an toàn biển ngày càng được nâng cao, đảm bảo phát triển bền vững cho ngành nuôi hàu.
Thu hoạch:
Sau một năm nuôi thì có thể thu hoạch. Mùa vụ thu hoạch hàu có liên quan đến chất lượng sản phẩm và kỹ thuật nuôi hàu nào được áp dụng. Thường vào mùa sinh sản khi tuyến sinh dục của hàu phát thành thục thì chất lượng thịt cao nhất, lúc đó hàm lượng đạm cao và hàm lượng nước trong thịt thấp. Do đó, đối với hàu thì mùa vụ khai thác tốt nhất là vào mùa sinh sản.
Tuy nhiên, nếu thu hoạch vào mùa sinh sản cần chú ý đến vấn đề bảo vệ nguồn lợi. Nên chọn giải pháp bảo vệ nguồn lợi thích hơp như: phân vùng khai thác, quy định kích cỡ khai thác, quy định kích cỡ khai thác phải lớn hơn kích cỡ các thể có khả năng tham gia sinh sản lần đầu hay giới hạn sản lượng thu hoạch…sao cho trên bãi vẫn còn đủ số lượng hàu sinh sản thêm nhằm phục hồi quần thể.
Đối với vùng nuôi hàu của BAVABI, dưới sự quản lý và bảo hộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mẫu kiểm nghiệm chất lượng vùng nuôi và con giống luôn được kiểm tra định kỳ hàng tháng, đảm bảo tất cả các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, con hàu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường châu Âu, châu Mỹ.
————————————
Liên hệ đặt hàng
VPĐD Hà Nội: Số 29-NV6, Tổng cục 5, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội
Hotline: 0383.215.966
- Nhà máy chế biến: Đông Trung – Đông Xá – Vân Đồn – Quảng Ninh
- Hotline: 0203.6293939 – 0971.900.688
- Email: bavabi.vn@gmail.com
- Website: https://www.bavabi.com
- https://bavabioyster.com
- Shopee: https://bit.ly/bavabi_shopee
- Lazada: https://bit.ly/bavabi_lazada
