Cẩm nang toàn tập về loài Hàu Thái Bình Dương

Hàu Thái Bình Dương (Crasosstrea gigas) được Thunberg phân loại vào năm 1793 thuộc Ngành Nhuyễn thể (Mollusca), Lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia), Bộ Cơ Lệch (Anisomyarya), Họ Hàu (Ostreidae), Giống Hàu (Crasosstrea). Dưới đây là tất cả thông tin về loài hàu Thái Bình Dương mà Bavabi đã tổng hợp được.

Đặc điểm phân bố của Hàu Thái Bình Dương

Nguồn gốc

Hàu Thái Bình Dương là loài bản địa của Nhật Bản. Chúng phân bố tự nhiên ở 30 – 45° vĩ Bắc. Chúng được nhập vào nhiều quốc gia trên thế giới. Cụ thể:

  • 1920: Du nhập vào Mỹ.
  • 1966: Vào Pháp
  • 2003: Chúng có mặt ở 64 nước trên thế giới ở cả 5 châu lục.

Hàu được du nhập về Việt Nam khoảng đầu những năm 2000. Hiện được sản xuất giống, nuôi thương phẩm phổ biến ở các vùng biển Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Khánh Hòa… với các kỹ thuật chuyên môn cao.

Môi trường sống

Hàu Thái Bình Dương là loài rộng muối. Chúng có thể sống ở độ mặn trên 35‰ hoặc dưới 5‰. Ở độ mặn thấp khả năng sinh trưởng có thể chậm hơn.

Độ mặn tối ưu cho sự phát triển của Hàu trưởng thành là 20 – 25‰ (FAO, 2003) và 15 – 29‰ đối với ấu trùng, mặc dù trứng có thể phát triển bình thường ở độ mặn 36‰ (Amemiya, 1928).

Bởi vậy, Hàu Thái Bình Dương có thể nuôi được ở các vùng của sống có độ mặn thấp. Chúng cũng là loài rộng nhiệt, có thể sống ở nhiệt độ từ  – 1.8°C đến 35°C. Đặc biệt, vẫn có thể tồn tại ở nhiệt độ – 5°C.

Nhiệt độ thích hợp nhất để Hàu Thái Bình Dương phát triển vẫn là 20 – 28°C. Chúng thường phân bố  ở vùng giữa triều đến độ sâu 40m. Sống bám trên bề mặt đá, rễ cây hay vỏ nhuyễn thể khác.

Đặc điểm cấu tạo sinh học của Hàu Thái Bình Dương

Hàu Thái Bình Dương là loài có kích thước lớn nhất trong các loài hàu xuất hiện trên thế giới. Nó có kích thước trung bình 18 – 20cm. Với sức sinh trưởng nhanh có thể đạt 100mm trong 12 tháng đầu đời. Tuổi thọ có thể lên tới 13 năm.

Năm 2014, một con Hàu Thái Bình Dương tìm thấy ở Đan Mạch có kích thước khủng được Guinness công nhận. Đây được coi là con Hàu lớn nhất thế giới, trọng lượng 1.6kg, dài 36cm. Có thể tưởng tượng nó như 1 chiếc giày đàn ông có size 44. Hiện con hàu này vẫn đang sống và được trưng bày tại Bảo tàng Biển Wadden.

Vỏ hàu Thái Bình Dương

Hàu sống ở những vị trí khác nhau sẽ có hình dạng, kích thước và màu sắc khác nhau. Vỏ hàu Thái Bình Dương tương đối lớn và không đều nhau giữa 2 vỏ.

Vỏ hàu dài và có hình gần giống Oval. Những sọc đối xứng của 2 vỏ thì bắt đầu từ những mầu lồi. Màu vỏ ngoài hơi trắng vàng và có những sọc màu nâu.

Phía trong vỏ có màu trắng sữa. Cơ khép vỏ có hình bầu dục. Trên bề mặt phần trước bụng và phần lưng của vỏ thường có những hốc lõm sâu.

Cấu tạo bên trong của Hàu Thái Bình Dương

Xúc tu có dạng những nếp gấp hình nón với màu hơi ngả vàng và những chấm nâu. Ruột màu đen, tim có màu ngà hơi vàng. Hình thái bên trong của Hàu Thái Bình Dương bao gồm:

Hình thái bên trong của Hàu Thái Bình Dương
1. Tim, 2. Cơ khép vỏ, 3. Hậu môn, 4. Vỏ phải, 5. Xoang nước ra, 6. Mang, 7. Màng áo phải, 8. Màng áo trái, 9. Ruột, 10. Dạ dày, 11. Tuyến sinh dục, 12. Bản lề, 13. Miệng

Đặc điểm dinh dưỡng của Hàu Thái Bình Dương

Thức ăn của Hàu và quá trình bắt mồi

Cùng giống như những loài nhuyễn thể khác, hàu là loài ăn lọc thụ động. Hàu bắt mồi trong quá trình hô hấp dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp, nước có chứa thức ăn qua bề mặt mang. Các hạt thức ăn được giữ lại ở mang nhờ các tiêm mao và dịch nhờn.

Các hạt thức ăn có kích thước nhỏ sẽ được dịch nhờn ở các tiêm mao quấn dần về phía miệng. Với những hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ được nước cuốn đi khỏi bề mặt mang. Sau đó, tập trung ở mép màng áo và được đẩy ra ngoài.

Thức ăn của hàu tương đối đa dạng như: vi khuẩn, sinh vật nhỏ, mùn bã hữu cơ, tảo, trùng roi có kích thước dưới 10µm. Hàu cũng có thể sử dụng được một số vật chất hòa tan trong nước và vật chất hữu cơ.

Quá trình chọn lọc và tiêu hóa thức ăn của Hàu

Quá trình được thực hiện 4 lần:

  • Lần 1: Trên bề mặt mang
  • Lần 2: Trên đường vận chuyển
  • Lần 3: Trên xúc biên
  • Lần 4: Tại màng nang chọn lọc thức ăn.

Sau khi được chọn lọc, thức ăn được đưa đến dạ dày, được tiêu hoá một phần nhờ các men Amilase, Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, pProtease,… Các thức ăn không thích hợp sẽ được xuống ruột và đẩy ra ngoài qua hậu môn.

Trong giai đoạn ấu trùng, thức ăn phù hợp là vi khuẩn, sinh vật nhỏ mùn bã hữu cơ, tảo khuê, tảo Silic (Bacillarophyta), trùng roi có kích thước dưới 10µm. Ấu trùng có thể sử dụng chất hoà tan trong 1 nước và các vật chất hữu cơ. Các loài tảo thường gặp là tảo khuế (C.Calcitran, C.Muelleri…), tảo lông roi (I.Galbana, P.lutherii, Tetraselmis…) vì kích cỡ phù hợp, dễ tiêu hoá, hàm lượng dinh dưỡng cao.

Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của Hàu

Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của hàu là thủy triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường như nhiệt độ, nồng độ, muối…

Khi thuỷ triều lên, cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ bắt mồi giảm. Nếu trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp. Ít thức ăn thì cường độ bắt mồi cao.

Đặc điểm sinh trưởng của Hàu Thái Bình Dương

Nhiệt độ, thức ăn và độ mặn đây là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ấu trùng. Khi nhiệt độ thấp, hàu sinh trưởng và biến thái chậm. Thời gian phù du kéo dài, khoảng nhiệt độ 19 – 20°C giai đoạn phù du của hàu kéo dài 3 tuần. Độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động 14 – 37‰, nhưng thích hợp nhất là 15 – 25‰.

Nếu ấu trùng được cung cấp thức ăn đầy đủ và các yếu tố môi trường được duy trì thích hợp, ấu trùng có thể đạt tới 1,5mm. Biến thái của ấu trùng khi đạt kích thước >280µm.

Đặc điểm sinh sản của Hàu Thái Bình Dương

Hàu là loài lưỡng tính

Hàu Thái Bình Dương là loài lưỡng tính, lúc mới sinh ra là đực. Trong quá trình sống thì giới tính thay đổi phụ thuộc vào môi trường sống.

Trong vùng thức ăn phong phú thì đàn Hàu cái chiếm ưu thế. Khi nguồn thức ăn nghèo nàn thì chúng lại chuyển thành đực. Ở châu Âu,  quá trình hình thành giao tử bắt đầu tại 10°C, độ mặn 15 – 32‰. Sự hình thành giảm đi khi độ mặn cao hơn. Sự đẻ trứng diễn ra ở 18°C. Đặc biệt ở Canada gặp trường hợp sinh sản ở 15°C.

Đến mùa sinh sản, tuyến sinh dục phát triển mạnh, trọng lượng chiếm tới 50% trọng lượng cơ thể. Hàu Thái Bình Dương đẻ 50 – 200 triệu trứng/lần.

Trứng có thể tồn tại trong nước 10 – 15h. Sau 3 – 4 tuần sẽ phát triển thành ấu trùng bám. Thời gian đầu, sống phù du trong cột nước. Sau thời gian sẽ biến đổi và bám vào vật bám. Lúc này kích thước ấu trùng đạt 300 – 330µm. Thời gian biến đổi của Hàu phụ thuộc vào nhiệt độ, thức ăn, độ mặn.

Các giai đoạn phát triển của ấu trùng

Ấu trùng Veliger

Xuất hiện sau 16 – 24 giờ từ khi thụ tinh. Có dạng chữ D, có 2 nắp vỏ và vành tiêm mào giữa 2 nắp vỏ. Ấu trùng vận động nhanh nhở sự vận động của vành tiềm mao miệng. Giai đoạn này kéo dài từ 2 – 6 ngày. Kích thước ấu trùng dao độ 75 – 120µm.

Ấu trùng đỉnh vỏ Umbo

Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các cơ quan bao gồm:

  • Giai đoạn Umbo sơ kỳ: bắt đầu xuất hiện mầm cơ khép vỏ. Quan sát trên kính hiển vi thấy ruột và một 1 đôi cơ quan trong suốt. Giai đoạn trung kỳ: xuất hiện đỉnh vỏ, kích thước thùng đạt 130 – 200µm
  • Giai đoạn hậu kỳ đỉnh vỏ: ấu trùng xuất hiện điểm mắt, kích thước ấu trùng tăng nhanh.
  • Giai đoạn cuối Umbo hậu kỳ: xuất hiện điểm mắt ở gần phía đỉnh vỏ, một số cá thể hình thành chân bò. Dấu hiệu kết thúc quá trình sống trôi nổi chuyển sang sống bám cố định.

Ấu trùng bám Spat

Sau khi xuất hiện chân bò, hoạt động bơi của ấu trùng giảm dần. Lúc này vành tiêm mao và điểm mắt thoái hóa dần. Đặc trưng của giai đoạn này là hình thành các tơ chân, màng áo và một số cơ quan khác. Ấu trùng chuyển sang hoàn toàn sống bám.

Nguồn tham khảo: Hiệp Hội Nuôi Biển Việt Nam

Nhập thông tin đặt hàng